[Đăng ngày: 16/01/2015]

Miếu Trịnh Phong tọa lạc tại xóm 1, thôn Phú Ân Nam 4, xã Diên An, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Miếu nằm ở giữa thôn, sát đường 23/10 cạnh Cây Dầu Đôi – ngã Ba Thành. Có hai hướng đi đến di tích thuận lợi nhất.



       Hướng thứ nhất: Từ thành phố Nha Trang, theo đường 23/10 lên gần đến Ngã Ba Thành, Miếu Trịnh Phong tọa lạc ngay bên tay trái, cạnh Cây Dầu Đôi to lớn đứng sừng sững bên đường 23/10.

       Hướng thứ 2: từ Trung tâm thị trấn Diên Khánh theo đường Quốc lộ 1A ra hướng Bắc đến Ngã ba cải lộ tuyến rẽ phải (khoảng 1km), theo đường 23/10 khoảng 50m là đến, miếu tọa lạc bên tay phải.

       * Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong:

Miếu được khởi dựng năm 1886. Chuyện được lưu truyền lại như sau:

Vào một buổi chiều khuất dạng sau rặng núi phía Tây, bà Trần Thị Đãi ở ấp Phật Tỉnh, làng Phú Ân đi qua cây Dầu Đôi bỗng hốt hoảng la thất thanh khi phát hiện thấy một túi vải đựng đầu người treo trên cây duối, nhân dân trong ấp không biết người xấu số là ai, nhưng động lòng thương xớt, nghĩ “nghĩa tử là nghĩa tận” bèn đem chôn cất tử tế, cũng từ đó, bà Trần Thị Đãi xin làng lập am để thờ.

 

Bẵng đi thời gian khá lâu, hầu như không ai còn nhớ đến chuyện một người bị chặt cổ bêu đầu. Bỗng vào một buổi sáng đẹp trời, có một người đàn ông đang cày ruộng thì “lên đồng”(1), chạy một mạch đến gốc cây Dầu Đôi rồi tự xưng mình là Trịnh Phong bị kẻ thù sát hại, bêu đầu, được bà con chôn cất, lập am thờ cúng, nay xin có lòng cảm tạ. Nói rồi người đó ngất đi hồi lâu, khi tỉnh lại, người đàn ông ấy không biết tại sao mình lại nằm ngay dưới gốc cây Dầu Đôi và cũng không rõ là mình nói những gì.

 

Qua câu chuyện truyền kỳ ở trên, nhân dân quanh vùng tin rằng cái đầu trong túi vải treo trên cây duối năm xưa, chính là đầu của Trịnh Phong. Và từ đó, am nhỏ bên cây Dầu Đôi được nhân dân kín đáo truyền gọi là Miếu Trịnh Phong.

Trịnh Phong sinh ra ở làng Phú Vinh, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương (nay là thôn Phú Vinh, xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang), thuở nhỏ ông là người thông minh, học giỏi. Năm 1864 ông thi đậu Cử nhân võ và được triều đình nhà Nguyễn phong đến chức Đề đốc, nhậm chức tại Quảng Nam.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng và sau đó phát động chiến tranh xâm lược trên khắp nước ta. Sau đó không bao lâu chúng đã chiếm được Lục tỉnh Nam Kỳ và có tham vọng chiếm luôn cả vùng đất thuộc quyền quản lý của nhà Nguyễn.

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp ngày càng bộc lộ rõ, trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn chia làm hai phe: phe chủ chiến và phe chủ hòa; ông đã từ quan, trở về quê hương nung nấu ý chí, chờ đợi thời cơ đánh đuổi quân xâm lược.

Theo Hiệp ước năm 1884 thì Khánh Hòa là tỉnh bên trong vùng quản lý của triều đình nhà Nguyễn (thuộc Trung Kỳ). Năm 1885 vua Hàm Nghi lên ngôi, là một vị vua trẻ có lòng yêu nước nồng nàn, được Tôn Thất Thuyết – một viên tướng cầm đầu phái chủ chiến ở triều đình ủng hộ. Năm 1885, cuộc phản công ở Kinh thành Huế do Tôn Thất Thuyết chỉ huy đã nổ súng tấn công trước khi quân Pháp kịp tấn công. Cuộc phản công không thành, Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, chuẩn bị kháng chiến lâu dài và ra Chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên giúp vua cứu nước.

Chiếu Cần Vương đã như một hiệu lệnh thống nhất cho phong trào yêu nước ở các địa phương. Trên phạm vi cả nước, nhân dân đã nổi dậy kháng chiến ở nhiều nơi, phong trào phát triển ngày một mạnh mẽ, nhất là từ năm 1885 khi trọng thần Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi lập căn cứ ở núi Sơn Phòng (Quảng Trị) phát động phong trào Cần Vương, ban chiếu kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến. Phong trào được các sĩ phu và nhân dân cả nước hưởng ứng.  Theo báo cáo của viên công sứ Pháp Aymonier gửi cho Thống đốc Nam Kỳ “…..ở Khánh Hòa có quan nổi loạn đã làm chủ toàn tỉnh và đang tập hợp nhân dân thành các đội quân bảo vệ xóm làng, giữ gìn trật tự…”

Tại Khánh Hòa, Trịnh Phong đã cùng các ông: Lê Nghị, Trần Đường, Nguyễn Khanh, Phạm Chánh, Nguyễn Dị, Nguyễn Lương, Nguyễn Sum, Phạm Long, Tú tài Nguyễn Trung Mưu là những thân hào nhân sĩ uy tín đứng lên thành lập “Bình Tây cứu quốc đoàn” với khẩu hiệu: “Tiểu tặc trừ gian bình quốc loạn; Hưng binh ứng nghĩa phục giang san”, kêu gọi nhân dân gia nhập nghĩa quân, đóng góp lương thực, luyện tập binh sĩ, đúc rèn vũ khí sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Do tài trí và đức độ hơn người Trịnh Phong được nghĩa quân và nhân dân tôn làm Bình Tây đại tướng, thống lĩnh nghĩa quân. Trong quá trình xây dựng lực lượng, về mặt quân sự Trịnh Phong chia Khánh Hòa làm hai phân khu; phân khu Bắc do Trần Đường chỉ huy, phân khu Nam do ông và Lê Nghị trực tiếp chỉ huy. Dựa vào địa hình giáp biển và núi non chia cắt tạo nên thế hiểm trở, Trịnh Phong đã cho thiết lập một hệ thống phòng thủ dọc bờ biển ở Nha Trang, Rọ Tượng, Hòn Khói, Tu Bông, sẵn sàng đánh bật các cuộc đổ quân từ biển của Pháp. Trước khí thế của nghĩa quân, nhất là uy tín của Trịnh Phong và các thủ lĩnh, nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, quan lại đầu tỉnh đang trấn nhậm trong Thành Diên Khánh đã chủ động giao Thành và quyền binh lại cho nghĩa quân cai quản, Thành Diên Khánh trở thành Tổng hành dinh của nghĩa quân.

Phong trào “Cần Vương” ở Khánh Hòa do Trịnh Phong đứng đầu đã được các tầng lớp nhân dân tích cực ủng hộ nhất là về lương thực, thực phẩm, vận động thanh niên tham gia nghĩa quân.

Tháng 8/1885 quân Pháp đổ bộ lên cửa sông Cù Huân (Nha Trang), Trịnh Phong giao Thành Diên Khánh cho Lê Nghị trấn giữ, ông trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chặn đánh quân Pháp tại cửa sông Cù Huân, Hòn Thơm, Hòn Đá Lố… Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo và thông thuộc địa hình, lại được nhân dân hết lòng giúp sức, che chở, nghĩa quân đã mưu trí dụ địch vào sâu rồi thực hiện lối đánh du kích, chia cắt, phân tán đội hình, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Bằng tinh thần mưu trí, dũng cảm nghĩa quân đã đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch. Trong thời gian đầu nghĩa quân bảo toàn lực lượng, liên tiếp đánh thắng ở các nơi: Bá Hà (Hòn Khói – Ninh Hòa), giải vây thành công Thành Diên Khánh sau 21 ngày đêm bám trụ giữ Thành, bức rút đồn binh duy nhất của Pháp tại Hòn Khói. Tháng 12 năm 1885 nghĩa quân Cần Vương Khánh Hòa phối hợp với nghĩa quân các tỉnh Nam – Trung Bộ đánh chiếm lại Thành Diên Khánh và làm chủ phần lớn tỉnh Khánh Hòa.

Sau nhiều lần tổ chức tấn công, chiếm đóng nhưng đều bị thất bại nặng nề, do đó quân Pháp đã có những điều chỉnh về chiến lược. Giữa năm 1886 địch tăng viện từ Gia Định tập trung lực lượng tiến đánh chiếm lại tỉnh Khánh Hòa, đồng thời ra sức khủng bố gia đình nghĩa quân, đặc biệt là gia đình của lãnh đạo phong trào. Chúng tăng cường hoạt động gián điệp, phản gián, ra sức mua chuộc chia rẽ nội bộ nghĩa quân và dùng những tên Việt gian bán nước dẫn đường trấn áp nhân dân, cô lập nghĩa quân với nhân dân. Sau khi nắm rõ địa hình và với ưu thế hơn hẳn về vũ khí, chiến thuật, quân Pháp đã mở nhiều cuộc tấn công lớn, chúng điên cuồng tàn sát nghĩa quân, dìm phong trào trong bể máu, chúng đã chiếm được một số vị trí quan trọng trong đó có Thành Diên Khánh.

Trước thế mạnh của địch, Trịnh Phong cho rút quân ra phía Bắc Khánh Hòa, hợp quân với Trần Đường, Phạm Chánh, Nguyễn Sum, Phạm Long lập phòng tuyến giữ cửa biển Hòn Khói, xây dựng căn cứ ở Thùng Bà Nùi, Hòn Hèo. Khi quân Pháp đánh chiếm Hòn Khói, nghĩa quân rút lên căn cứ tổ chức phòng thủ.

Tuy nghĩa quân vẫn chiến đấu kiên cường gây cho chúng một số tổn thất nhưng trước những thế mạnh về quân sự của địch, phong trào đấu tranh của nghĩa quân ngày càng suy yếu. Lãnh đạo phong trào như: Trịnh Phong, Trần Đường, Nguyễn Khanh, Phạm Chánh, Phạm Long, Nguyễn Sum bị địch giết hại, hàng trăm tướng lĩnh và nghĩa quân bị kẻ thù giam cầm.

Phong trào Cần Vương ở Khánh Hòa tuy bị dập tắt, nhưng tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường bất khuất đã để lại trong lòng nhân dân Khánh Hòa một tình cảm đặc biệt sâu sắc, nhân dân đã suy tôn ba thủ lĩnh của phong trào Cần Vương tại Khánh Hòa là Trịnh Phong, Trần Đường, Nguyễn Khanh với danh hiệu “Khánh Hòa tam kiệt”.

Cái chết của Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận ra rằng, giữa cái án kẻ thù gây ra và những câu chuyện dân gian có nhiều điểm tương đồng. Vào thời điểm Trịnh Phong bị quân thù sát hại và một thời gian dài sau đó, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách cai trị rất khắc nghiệt, do vậy không ai dám công khai chôn cất và lập am, miếu thờ cúng những người đã ngã xuống vì nghĩa lớn dân tộc, nhất là lãnh tụ các phong trào, đó là điều dễ hiểu. Riêng về Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong, việc nhân dân thông qua những câu chuyện truyền kỳ nhằm che dấu chính quyền thực dân, hợp thức hóa am, miếu để thờ Trịnh Phong, người có công với quê hương, đất nước thì cũng chính là một cách làm hay, sáng tạo, tỏ lòng thương tiếc, tri ân với những người có công với nước – là một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Miếu được vua Thành Thái thứ 13 (1901) ban tặng sắc phong cho “Đại Đức Khôi Tinh”, sau đó vào đời vua Khải Định thứ 9 (1924) tiếp tục phong tặng sắc phong với mỹ tự: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Thuần Chính. Điều này cho phép chúng ta suy luận, Trịnh Phong là người lãnh đạo phong trào Cần Vương, phong trào bị thực dân Pháp đàn áp mạnh mẽ, những lãnh đạo phong trào bị địch bắt được thực thi chém đầu, chúng hành động với mục đích là uy hiếp tinh thần chiến đấu của nhân dân; lúc này triều đình phong kiến Nguyễn đang lệ thuộc Pháp và bị Pháp thao túng quyền hành, do vậy một mặt triều đình chịu sự cai quản của thực dân Pháp, nhưng một mặt vẫn có cái nhìn nhận tích cực về phong trào Cần Vương nên các triều vua sau vua Hàm Nghi đã ban tặng sắc phong cho người có công với đất nước, ngã xuống vì đất nước nhưng lại không dám và không thể viết đích danh tên ông mà chỉ có thể lấy mỹ tự “Đại Đức Khôi Tinh” để hàm ý chỉ người anh hùng vì nước quên thân: Trịnh Phong; đó là điều dễ hiểu và có thể thông cảm được với các vị vua đương quyền trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động đó.

          * Lịch sử hình thành di tích:

 

Tìm hiểu về cái chết của Trịnh Phong, chúng ta biết được trong dân gian còn truyền khẩu nhiều câu chuyện rất cảm động về ông. Chuyện kể rằng, khi Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong thất trận, bị kẻ thù sát hại, chém đầu ở Ninh Hòa và sau đó chúng đem về giao cho Tuần vũ Khánh Hòa ở Thành Diên Khánh bêu đầu bên cầu Sông Cạn (nay là Cầu Trần Quý Cáp) để thị uy, răn đe dân chúng. Khi ấy, có một người phụ nữ tên là Trịnh Thị Xuyến, cháu của Trịnh Phong (người từng theo hầu Ông trong suốt thời gian lãnh đạo nghĩa quân đánh Pháp) đã bí mật đem thủ cấp của ông về quê ở Phú Vinh chôn cất. Trên đường đi, bà Xuyến bị theo dõi, do sợ kẻ thù phát hiện, bà vội vàng treo cái túi vải có đựng thủ cấp của Trịnh Phong lên bụi duối bên cạnh cây Dầu Đôi. Hôm sau bà Trần Thị Đãi phát hiện ra cái túi này và xin phép lập am thờ cúng người xấu số như đã nói ở trên.

 

Bên cạnh miếu phía tay phải phần ngoài tường bao quanh di tích có cây Dầu Đôi đã vài trăm tuổi gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của địa phương, vì vậy nhân dân thường lấy tên cây đặt cho di tích: miếu Cây Dầu Đôi là tên gọi dân gian của ngôi miếu này.

Trải qua thời gian, miếu đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nhưng hiện nay không còn bút tích gì để lại. Tuy nhiên, có lẽ một điều dễ hiểu là khi mới lập am thờ, chỉ làm bằng chất liệu thảo mộc đơn giản; sau đó am dần dần được cất to lớn hơn và tên Miếu được thay cho Am. Đợt trùng tu lớn nhất đem lại diện mạo mới là năm 2003 – kỉ niệm Khánh Hòa 350 năm thành lập tỉnh. Miếu Trịnh Phong đã được đầu tư kinh phí trùng tu các hạng mục công trình: xây tường bao quanh di tích, nghi môn, trùng tu Bái đường, Chánh điện, nhà Đông có diện mạo khang trang như hiện nay.

Năm 2008 sửa chữa thay một số cột gỗ tại Bái đường miếu, nâng phần sân cao lên.

          * Kiến trúc di tích:

Di tích Miếu Trịnh Phong có tổng diện tích 639,1m2; trong đó diện tích khu vực I là: 114,1m2; diện tích khu vực II là: 525m2.

Miếu xây theo lối kiến trúc một gian hai chái, ba lối cửa ra vào được thiết kế theo kiểu thượng song hạ bản, kết cấu kiến trúc khung gỗ tại di tích mang nét đặc sắc, truyền thống Việt. Qua bậc tam cấp là lên đến Tiền tế, nền lát gạch bát tràng, cao hơn sân khoảng 30cm. Tiền tế để trống không có cửa ra, vào; chỉ có 4 hàng chân cột gồm có 4 cột cái và 14 cột quân. Bốn cột cái tạo thành hai bộ vì nóc kết cấu kiểu vì kèo, các thanh kèo phụ , đấm phụ và khuyết phụ ăn mộng từ cột cái chạy ra ăn mộng vào đầu các cột quân. Mái miếu có 4 mái, đỉnh mái đắp hình lưỡng long chầu nguyệt, được lợp ngói âm dương. Phía trong Tiền tế đặt 01 ban thờ gỗ đơn giản, lối kiến trúc cổ kính mà uy nghiêm.

 

Phía ngoài gian giữa của Chánh điện treo 01 bức hoành phi bằng gỗ viết chữ Hán “Vạn An miếu”. Cửa gỗ thiết kế theo kiểu thượng song hạ bản.

Bước vào trong, chính giữa đặt ban thờ Hội đồng bằng gỗ, hai bên ban thờ Hội đồng đặt cặp lọng vải, phía trên ban thờ treo 01 bức chấn vải. Giáp với tường hồi phía sau là khám thờ bằng gỗ được chạm trổ rất tỉ mỉ, viết chữ Hán “Thần” (  ). Bốn cột gỗ vuông tạo thành bộ vì nóc của gian Chánh điện, trên chạm khắc hai cặp câu đối bằng chữ Hán trực tiếp lên cột, sơn son thiếp vàng. Phần trên của cột cái đẽo chạm hình hoa lá, đầu dư của các thanh kẻ và kèo chạm khắc cách điệu tạo sự mềm mại trong di tích. Phía trong gian chánh điện treo cặp liễn đối ca ngợi công đức của thần.

Hách trạc thần công linh hữu trợ,

Hinh hương tự điển giác đồng vinh.

Tạm dịch :

Dân được trợ giúp là nhờ công thần linh thiêng rực rỡ,

Được vinh hoa ấy bởi tự điển thơm hương.

Cặp câu đối ca ngợi công đức của Bình tây đại tướng:

Võ kiếm cung thao lược võ bình tây thăng đại tướng,

Văn kinh sử trí tri văn Khánh tỉnh xuất trung thần.

Tạm dịch:

Võ kiếm cung thao lược, bình giặc tây thăng lên làm đại tướng,

Văn kinh sử trí tri, tỉnh Khánh Hòa xuất hiện bậc trung thần.

  Hàng năm, di tích tổ chức cúng Xuân vào ngày 16/03 âm lịch. Cứ 3 năm lại cúng đại lễ một lần.

Hiện nay mộ phần của Trịnh Phong tọa lạc tại thôn Phú Vinh, xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Khu mộ phần này ngoài mộ của Trịnh Phong còn có 02 ngôi mộ của thân phụ và thân mẫu ông. Phần mộ được trùng tu năm 2005. Hàng năm gia tộc họ Trịnh đều tổ chức cúng tế tại Từ đường vào tháng 7 âm lịch.

 

Ghi nhận những giá trị lịch sử - văn hóa của di tích, năm 1991 Bộ Văn hóa–Thông tin đã ra quyết định xếp hạng di tích Miếu Trịnh Phong là di tích cấp Quốc gia tại quyết định số 1548 – QĐ, ngày 30/8/1991.

 Với những giá trị tiêu biểu về nhân vật lịch sử, Miếu Trịnh Phong thực sự là nơi bảo tồn và tái hiện nét sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng đặc trưng của người dân Diên Khánh nói riêng, Khánh Hòa nói chung. Bên cạnh đó di tích nằm trong hệ thống các di tích lịch sử lớn của địa phương, có thể thành lập tour du lịch để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, con người Diên Khánh – Khánh Hòa trong lịch sử và đương đại.

CÁC TIN KHÁC









Số người truy cập: 550450
Đang online: 91

Độ ẩm:
Sức gió: