Tháp Bà Ponagar tọa lạc trên
đồi Cù Lao cao khoảng trên 20m (so với mực nước biển), diện tích theo số liệu
mới nhất 17.683,6m2, thuộc Phường Vĩnh Phước, cách trung tâm thành phố
Nha Trang khoảng 2km về phía bắc.
Khu di tích là quần thể công
trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vương quốc Chăm Pa cổ, được xây dựng
khoảng từ giữa thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII. Nơi đây là trung tâm tôn giáo
thờ Nữ thần Ponagar (người Mẹ xứ sở của dân tộc Chăm) và được người Việt tiếp
tục gìn giữ, phát triển làm nơi thờ Thiên Y Thánh Mẫu của cộng đồng cư dân khu
vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
Với những
giá trị tiêu biểu, di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1979.
Quần thể di
tích phân bố trên hai mặt bằng: Tháp cổng và Mandapa; khu đền tháp với các công
trình kiến trúc và hoạt động văn hoá tiêu biểu, xin giới thiệu đến quý khách:
1. Tháp cổng
Được người
Pháp phục dựng đầu Thế kỷ XX, theo môtip kiến trúc Chăm, bên trên có dòng
chữ “Tháp Thiên Y Thánh Mẫu”. Cổng chính của Tháp Bà vốn nằm trên trục thẳng
với Tháp Chính và Mandapa, nhưng đến nay cổng đó không còn. Theo khảo tả của
nhà nghiên cứu H. Parmantier, đầu thế kỷ XX vẫn còn kiến trúc Tháp cổng.
2. Khu Mandapa
Đây là nơi
các tín đồ chuẩn bị lễ vật và tịnh tâm trước khi hành lễ trên Tháp Chính. Kiến
trúc gồm bốn hàng cột trụ hình bát giác (10 trụ lớn và 12 trụ nhỏ). Trên thân
cột lớn ở độ cao bằng cột nhỏ có một ô hình chữ nhật khoét sâu vào thân cột, có
chức năng như những “lỗ mộng” trong kiến trúc gỗ. Các nhà nghiên cứu cho rằng
“lỗ mộng” có chức năng là điểm đỡ cho một kết cấu xà ngang để nâng đỡ mái che ở
phía trên nhưng đã đổ và hiện nay không để lại vết tích.
Trước đây, Mandapa còn có hai cột nhỏ, thấp hơn nền, ở hai bên bậc lên xuống và
thẳng ra cổng tháp cũ. Cổng, Mandapa và tháp lớn ở trên tạo thành trục thẳng
đông - tây. Kiến trúc Mandapa hiện nay có cùng niên đại với niên đại cuối cùng
của tháp chính, khoảng thế kỷ XI - XII.
Di tích Tháp Bà Ponagar là công trình kiến trúc, nghệ thuật của Vương quốc Chăm
pa cổ. Vật liệu xây dựng bằng gạch nung, xốp, nhẹ và thoát nước rất nhanh, nên
hầu như cũng không có hiện tượng rêu bám, các viên gạch chỉ bị bào mòn theo
thời gian, phô ra màu đen, thể hiện gạch được nung ở nhiệt độ cao; các viên
gạch liền mạch, khít chặt với nhau không để lộ ra mạch kết dính. Đây là điều
đặc biệt về kỹ thuật nung gạch và xây dựng tháp Chăm nhưng đã bị thất truyền.
Nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp làm gạch và xây tháp của người Chăm
cổ nhưng đến nay vẫn chưa có một giải đáp thuyết phục.
Theo các nhà
nghiên cứu, người Chăm xưa sử dụng phương pháp mài chập: Mài hai mặt viên gạch
với nhau tạo ra những vết xước, bôi chất kết dính và xây từng viên một. Có giả
thuyết cho rằng: Gạch ướt (gạch mộc), bôi chất kết dính (có thể là nhựa cây dầu
rái, hoặc cây bời lời trộn với mật mía, tro của trấu...) và nung cả ngôi tháp,
nhưng qua nghiên cứu cho thấy nhiệt độ nung của các viên gạch xây tháp khá đều
nhau. Với bức tường dày (khoảng 0,5m – 2m) như vậy nếu xây xong tháp mới nung
thì không thể có nhiệt độ nung đều nhau giữa các viên gạch. Chính vì vậy, cách
thức xây dựng cũng như nghệ thuật xây dựng tháp Chăm đến nay vẫn là một điều bí
ẩn.
Từ khu
Mandapa lên khu đền tháp có 36 bậc cấp dốc và thẳng đứng. Tương truyền: để thể
hiện sự tôn kính đối với các vị thần, đặc biệt là đối với Nữ thần Ponagar, các
tín đồ khi lên trên khu đền tháp hành lễ phải bò và giật lùi khi xuống không
quay lưng về phía đền tháp để thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần; Sau này
để thuận tiện cho du khách, khu đền tháp có thêm lối lên xuống bằng đá phía bên
tay trái.
3. Cảnh quan khu di tích
Đồi Cù Lao
được dòng sông Cái bao quanh, người Chăm gọi là Yatran (tức là Sông Lau). Trên
đồi có nhiều cây rừng cổ thụ hàng trăm năm tuổi đã tồn tại cùng những ngọn tháp
cả ngàn năm tuổi. Từ đây, du khách sẽ chiêm ngưỡng thành phố Nha Trang với cửa
biển Cù Huân, cầu Xóm Bóng bắc qua Sông Cái (cây cầu mang tên Xóm Bóng, nơi có
điệu múa linh thiêng “múa bóng” của các vũ nữ dâng lên nữ thần Ponagar trong
dịp lễ hội) và vịnh Nha Trang với những hòn đảo: đảo Yến, Hòn Tre, Hòn Nội, Hòn
Ngoại …
4. Khu đền tháp
Theo thống
kê của nhà nghiên cứu H. Parmantier, đầu thế kỷ XX di tích có 6 ngôi tháp,
nhưng hiện tại còn bốn ngôi đền tháp còn tương đối hoàn chỉnh so với các công
trình đền tháp Chămpa còn lại ở Việt Nam: Tháp Chính (Tháp Đông Bắc), Tháp Nam,
Tháp Đông Nam và Tháp Tây Bắc. Tiếng Chăm gọi các tháp là các
Kalan, theo tiếng Việt có nghĩa là đền, tháp, nhưng theo tín ngưỡng của những
người dân địa phương gọi đây là các dinh.
- Tháp Chính
(Tháp Đông Bắc) có quy mô lớn nhất, mang đặc trưng cơ bản, tiêu biểu nhất của
ngôi tháp Chăm truyền thống. Tháp cao khoảng 23 mét, có ba phần: Đế tháp, thân
tháp và mái tháp. Mái tháp ba tầng thu nhỏ dần về phía trên, tầng trên là hình
ảnh thu nhỏ của tầng dưới. Trên các tầng tháp được trang trí các linh vật:
Ngỗng, dê, voi và các tu sĩ cầu nguyện (có người gọi là các ápsara). Trên cửa,
được trang trí bằng một bức phù điêu hình lá đề: Thần Siva đang trong tư thế
nhảy múa hân hoan cùng với hai nhạc công của mình (thổi sáo, đánh xập xòe), một
chân dẫm lên lưng thần bò Nanđin. Phù điêu có niên đại thế kỷ XI và là một trong những tấm
phù điêu đẹp nhất của văn hóa Chăm pa còn được lưu giữ ở Việt Nam.
Tháp có bốn cửa theo bốn hướng đông – tây – nam và bắc nhưng chỉ có cửa hướng
đông là được mở còn các hướng khác là ô cửa giả. Cửa hướng đông được đỡ bằng
hai trụ đá, có ghi chữ Chăm cổ và chữ Sanscrit. Tháp chính thờ nữ thần Yan Po
Inư Naga (người mẹ xứ sở của dân tộc Chăm); tương truyền bà sinh ra từ áng mây
và bọt biển, Bà là nữ thần chủ của cả vương quốc Chăm Pa, được thờ ở xứ sở
Kauthara và cũng là Thiên Y A Na Thánh Mẫu theo tín ngưỡng thờ “Mẫu” của người
Việt.
Tượng Nữ
thần được tạc bằng một khối đá granit nguyên khối, trong tư thế ngồi uy nghiêm
trên bệ đá hình hoa sen, lưng tựa vào phiến đá lớn hình lá đề. Đây là một kiệt
tác về điêu khắc ChămPa, là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm
nổi. Toàn bộ pho tượng và tấm tựa được đặt trên một bệ Yoni khá lớn bằng đá.
Với bố cục: tượng thờ là Linga, bệ thờ là Yoni, đây là bộ Linga-Yoni hoàn
chỉnh, là sự kết hợp giữa giống đực và giống cái, tạo nên sự sống và là vật thể linh thiêng của dân tộc
Chăm pa. Hai bên Tháp thờ hai người con của
Bà (Công chúa Quý và hoàng tử Trí, theo tục thờ của người Việt).
- Tháp Nam:
Thờ thần Cri Cambhu (tên gọi khác của thần Shiva), tháp cao khoảng 18m; có niên
đại thế kỷ XIII. Tháp có bình đồ hình vuông, mái tháp
có hình dạng giống như quả chuông úp thu nhỏ về phía trên. Đặc biệt trên đỉnh
mái tháp có gắn một biểu tượng trụ tròn bằng đá, đó chính là Linga biểu tượng
sức mạnh của vị thần Siva, vị thần hủy diệt để thế giới sẽ tái sinh mang lại
những điều tốt đẹp đến cho con người cũng như vạn vật. Không gian thờ tự bên
trong là bộ sinh thực khí Linga -Yoni. Theo tín ngưỡng của người Việt: Tháp thờ
ông Nam Hải (chồng Thánh Mẫu Thiên Y A Na).
- Tháp Đông Nam: cao khoảng 7m, có mái hình
thuyền. Đây có thể là kiến trúc phụ trong quần thể kiến trúc và
thuộc loại muộn, khoảng thế kỷ XIII. Tháp bị xâm hại nhiều bởi yếu tố thời gian và điều kiện tự nhiên.
Trong tháp có bộ Linga - Yoni bằng đá. Tháp thờ con trai thần Shiva là thần
Skanda (thần chiến tranh). Người Việt gọi là Dinh Cố, thờ bố mẹ nuôi của Bà
Thiên YA Na.
- Tháp Tây Bắc: Ở phía sau Tháp
chính, cao khoảng 9m, có một tầng mái hình yên ngựa. Hệ thống cửa giả được điêu
khắc những pho tượng bằng gạch nung: Trên ô cửa giả phía nam là hình ảnh chim
thần Garuda, ô cửa giả phía bắc là hình ảnh đầu con Sư Tử, ô cửa giả phía tây
là hình tượng nữ thần cưỡi voi. Trong Tháp là bộ Linga - Yoni. Tháp thờ con
trai thứ hai của thần Shiva là thần Ganesa (thần đầu voi) biểu tượng của sự
thông thái, may mắn và hạnh phúc. Người Việt gọi là Dinh cô cậu (thờ 2 người
con của Bà Thiên Y A Na). Theo bia kí và khảo cổ học, tháp có niên đại xây dựng
năm 813 song đã được trùng tu nhiều lần, nên niên đại cuối cùng từ thế kỷ XIII
– XIV.
5. Bia ký
Trên Tháp
còn nhiều bia ký trên các cột đá, trên gạch bằng chữ Phạn (Sanscrit) và chữ
Chăm cổ, một số bia ký chưa dịch được nội dung.
Phía sau
Tháp chính có tấm bia do Phan Thanh Giản cho khắc vào năm 1856 (triều vua Tự
Đức), bằng chữ Hán Nôm nói về truyền thuyết Thiên Y A Na Thánh Mẫu của người
Việt.
Bên cạnh là
tấm bia dựng vào năm 1972, nội dung về dịch sang chữ quốc ngữ truyền thuyết bà
Thiên Y A Na theo “Xứ Trầm hương” của Quách Tấn.
Tấm bia đá
thứ ba do vị quan đứng đầu tỉnh Khánh Hòa khắc vào năm 1881(nội dung)
Và tấm
bia đá giới thiệu về di tích Tháp Bà Ponagar, bằng chữ Quốc ngữ, được dựng vào
năm 2010.
6. Lễ hội Tháp Bà
Diễn ra từ
ngày 20 - 23 tháng 3 (Âm lịch) hàng năm, thể hiện quá trình giao lưu tiếp biến
văn hóa Việt - Chăm, nên lễ hội Tháp Bà đã trở thành lễ hội văn hóa dân gian
lớn nhất ở Khánh Hòa, có sức lan toả cả vùng Nam Trung Bộ - Tây nguyên. Tiến
trình diễn ra có sự linh thiêng của phần lễ và sự đa dạng, náo nhiệt của phần
hội.
Phần
lễ: bao gồm các lễ như lễ thay y, lễ thả hoa đăng, lễ cầu Quốc thái Dân an, tế lễ cổ truyền…
Phần
hội: có múa Chăm truyền thống, múa Bóng (vũ nữ đội mâm hoa, quả, đèn…múa uyển
chuyển theo điệu nhạc trầm bổng), chầu văn ca ngợi công đức Thánh Mẫu, các trò
chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật truyền thống. Phần hội mang đậm bản sắc văn
hóa dân tộc thu hút đông đảo người Việt, người Chăm và hàng vạn du khách trong
và ngoài nước tham dự .
Với đặc
trưng tiêu biểu, lễ hội Tháp Bà Ponagar được công nhận là Di sản văn hóa phi
vật thể cấp quốc gia năm 2012.
7. Hoạt động trưng bày, biểu diễn
Phòng trưng
bày: Giới thiệu hình ảnh, hiện vật liên quan đến di tích. Pho tượng Bà được
phục chế theo tỉ lệ 1/1, được đặt ở giữa phòng trưng bày (giới thiệu về pho
tượng: các cánh tay, tính nhân văn…); hiện vật, linh vật được phục chế; những
bức ảnh đối chứng khu đền tháp trước và sau khi tu bổ…
Các thiếu nữ
dân tộc Chăm múa các vũ điệu truyền thống dưới không gian tháp cổ, du khách như
được chìm đắm trong khí thiêng của cõi tâm linh, chiêm ngưỡng từng công trình
kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc tài tình; Đồng thời có cơ hội mua sắm những sản
phẩm đặc trưng truyền thống được làm từ đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân Chăm
như: dệt thổ cẩm, gốm Bầu Trúc và sản phẩm độc đáo của vùng đất Khánh Hoà: trầm
hương, yến sào, tranh cát, tượng nghệ thuật bằng đất nung, thư pháp, thư hoạ
trên nhiều vật liệu…